Trang chủ / Án treo: Hiểu thế nào cho đúng?

Án treo: Hiểu thế nào cho đúng?

22/09/2020


Việc cho người phạm tội hưởng án treo là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, giúp họ tự lao động, cải tạo, trở thành người có ích mà không cần cách ly khỏi xã hội. Tuy nhiên hiện nay, nhận thức về án treo của người dân còn có nhiều hạn chế, nhiều người còn nhầm lẫn án treo với chế tài hình sự khác, không rõ về các điều kiện được hưởng và không được hưởng án treo.

1. Phân biệt “Án treo” và “Cải tạo không giam giữ”

Quy định tại Điều 1 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP nêu rõ Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.

Trong khi đó, tại Điều 36 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định cải tạo không giam giữ là hình phạt nặng hơn hình phạt tiền và cảnh cáo, được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

Án treo và cải tạo không giam giữ có hình thức giống nhau là người bị kết án được tự do trong sự giám sát, quản lý và giáo dục của địa phương cư trú, cơ quan nơi công tác. Đây là hai chế tài hình sự với nhiều nét tương đồng, ví dụ như cả hai hình phạt đều không cách ly người bị kết án ra khỏi xã hội. Tuy nhiên, giữa hai chế tài này có những điểm riêng biệt nhất định:

- Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Theo đó, người phạm tội phải thỏa mãn những điều kiện quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP mới được hưởng án treo. Bản chất án treo là người phạm tội bị tuyên hình phạt tù nhưng được cho miễn chấp hành hình phạt tù giam khi thỏa mãn điều kiện theo quy định của pháp luật. Đi kèm với án treo, Tòa án ấn định thời gian thử thách cho người bị kết án bằng hai lần mức hình phạt tù đã tuyên cho người đó, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm. Quy định của pháp luật hiện hành không quy định về việc kèm theo án treo người bị kết án phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng, cũng như bị trừ đi một phần thu nhập.

- Cải tạo không giam giữ là một trong các hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam. Thời hạn áp dụng hình phạt này là từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người đó khỏi xã hội. Người phạm tội phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định vè cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ. Nếu người bị cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.

2. Điều kiện áp dụng án treo cho người bị kết án phạt tù

Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP quy định người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

- Có nhân thân tốt.

- Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

- Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Các trường hợp không được hưởng án treo

Các trường hợp không cho hưởng án treo được quy định tại Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP. Theo đó, những trường hợp sau đây người phạm tội không được hưởng án treo dù đủ các điều kiện quy định tại Điều 2 Nghị quyết này:

- Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

- Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.

- Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.

- Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

- Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

- Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Nguồn: Theo ThuKyLuat.vn